Đánh thức tài nguyên carbon rừng
Sở hữu tài nguyên rừng lớn, Đắk Lắk đứng trước cơ hội bứt phá chưa từng có khi Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 của Chính phủ quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng (gọi tắt là Nghị định 180) chính thức tạo hành lang pháp lý cho dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng. Tuy nhiên, để đánh thức được "mỏ vàng" carbon dưới tán rừng, cần phải có những giải pháp căn cơ.
Bài 1: Khai mở dư địa xanh
Nghị định 180 đã mở rộng cánh cửa pháp lý, thổi luồng gió mới vào tư duy quản trị lâm nghiệp. Việc thương mại hóa "bể chứa" carbon không chỉ giải bài toán tài chính cho bảo vệ rừng mà còn kiến tạo một hệ sinh thái kinh tế xanh bền vững tại Tây Nguyên.
Khơi thông “mỏ vàng” từ carbon rừng
Đắk Lắk hiện quản lý khối tài sản lâm nghiệp lớn bậc nhất khu vực với 743.171 ha đất có rừng (trong đó rừng tự nhiên chiếm 530.868 ha, rừng trồng 212.303 ha) cùng gần 310.000 ha đất lâm nghiệp chưa có rừng. Hệ thống rừng đặc dụng, phòng hộ quy mô lớn như Vườn quốc gia Yok Don, Chư Yang Sin, Ea Sô, Nam Kar… tạo nên một "bể hấp thụ" carbon khổng lồ và ổn định.
Để biến tiềm năng này thành lợi thế, Đắk Lắk là 1 trong 5 tỉnh tham gia vào Chương trình giảm phát thải khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ (Sáng kiến LEAF). Theo tính toán của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, kết quả đóng góp của tỉnh đạt giảm phát thải hơn 2 triệu tấn CO2 trên diện tích 537.319,9 ha rừng tự nhiên. Tính trong giai đoạn 2021 - 2025, dự kiến mang về nguồn tài chính điều phối từ 9,59 đến 14,39 triệu USD (tương đương khoảng 251,95 - 377,92 tỷ đồng). Cùng với đó, tỉnh hiện có 245.640,6 ha rừng trồng và gần 310.386,5 ha đất lâm nghiệp chưa có rừng, đây cũng là dư địa rất lớn để chủ động tạo nguồn tín chỉ carbon mới ngoài rừng tự nhiên.
Công tác quản lý, bảo vệ rừng góp phần kiến tạo một hệ sinh thái kinh tế xanh bền vững.
Theo Chi cục Kiểm lâm, rừng không chỉ có vai trò bảo vệ hệ sinh thái, điều tiết nguồn nước mà còn góp phần hấp thụ, lưu giữ carbon. Khi các cơ chế đo đạc, đánh giá và công nhận được đáp ứng, nguồn tài nguyên này có thể tạo thêm giá trị kinh tế, bổ sung nguồn lực cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Đặc biệt, Nghị định 180 có hiệu lực (từ 15/7/2026) được coi là bước ngoặt thể chế, đánh dấu lần đầu tiên giá trị môi trường của rừng ở Việt Nam được luật hóa thành dịch vụ kinh tế trực tiếp. Và đây là cơ hội lớn để Đắk Lắk phát triển thị trường tín chỉ carbon từ nguồn tài nguyên rừng.
Ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho biết, nghị định mới quy định tương đối toàn diện về bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ, trình tự xây dựng và đăng ký dự án carbon rừng, cơ chế tiếp nhận, quản lý, sử dụng nguồn thu từ carbon rừng cùng các quy định về kiểm tra, giám sát, báo cáo và chia sẻ thông tin.
Một trong những điểm mới quan trọng của nghị định là quy định về quyền carbon rừng. Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND cấp tỉnh hoặc chủ rừng sẽ là đại diện chủ sở hữu đối với kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon rừng phát sinh từ các dự án do mình trực tiếp tổ chức thực hiện. Quyền này chỉ được xác lập khi chủ thể trực tiếp triển khai dự án carbon rừng, tạo cơ sở pháp lý xác định rõ chủ thể sở hữu, được cấp và chuyển nhượng tín chỉ carbon theo yêu cầu của các tiêu chuẩn carbon quốc tế.
Đòn bẩy tái cơ cấu ngành lâm nghiệp
Nghị định 180 không chỉ đưa lại nguồn vốn từ bên ngoài mà còn kích hoạt sự thay đổi sâu sắc về tư duy kinh tế lâm nghiệp ngay tại cơ sở.
Đối với Đắk Lắk, nghị định này tạo ra tác động sâu rộng ở nhiều khía cạnh. Cơ hội lớn nhất là chính sách này sẽ làm thay đổi căn bản tư duy kinh tế lâm nghiệp: người giữ rừng chuyển từ tư duy khai thác, chặt hạ sang nuôi dưỡng rừng để lưu giữ carbon. Những diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt hay rừng phòng hộ vốn không có giá trị khai thác gỗ thương mại nay trở thành tài sản sinh lời cao. Đồng thời, nghị định này cũng tạo động lực tái cơ cấu ngành lâm nghiệp bền vững, khi mà hấp thụ CO2 là dịch vụ môi trường rừng mới. Đây chính là cơ chế mới tạo đòn bẩy kinh tế trực tiếp thúc đẩy chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình canh tác gỗ nhỏ chu kỳ ngắn sang thâm canh rừng trồng gỗ lớn chu kỳ dài, phát triển chứng chỉ bền vững (FSC/VFCS) và các mô hình nông lâm kết hợp. Việc này vừa giúp nâng cao khả năng tích lũy trữ lượng carbon ổn định, vừa tăng tối đa giá trị gia tăng trên cùng một đơn vị diện tích đất lâm nghiệp.
Vườn quốc gia Chư Yang Sin với hệ sinh thái động thực vật phong phú, đa dạng.
Ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm chia sẻ: "Kỳ vọng lớn nhất của chúng tôi là tạo ra một vòng tuần hoàn kinh tế xanh khép kín". Trước mắt nguồn thu dự kiến hàng trăm tỷ đồng từ tài sản carbon (chỉ tính riêng dự án LEAF ước tính mang lại từ 251,95 đến 377,92 tỷ đồng) sẽ giải quyết bài toán cốt lõi là người giữ rừng sống được bằng nghề rừng.
Khi mức chi trả dịch vụ môi trường rừng được cộng hưởng thêm giá trị carbon (dự kiến bình quân tăng thêm từ 398.560 đến 597.840 đồng/ha tùy thuộc vào đàm phán), thu nhập của các hộ gia đình nhận khoán, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ sẽ tăng lên rõ rệt. Một khi người dân thấy rõ rừng là nguồn thu nhập cao và ổn định hằng năm, họ sẽ tự giác trở thành những người bảo vệ rừng chủ động nhất, triệt tiêu tận gốc các hành vi phá rừng lấn chiếm đất đai, giúp ổn định trật tự an ninh môi trường và tạo động lực cho tăng trưởng xanh của tỉnh.
Với tiềm năng quy mô lớn cùng sự chủ động chuẩn bị về nền tảng dữ liệu, Đắk Lắk đang sẵn sàng biến "tài nguyên xanh" thành "dòng vốn xanh", tạo xung lực mới cho sự phát triển bền vững của toàn vùng Tây Nguyên.
Bài 2: Kiến tạo vòng tuần hoàn kinh tế xanh
Để tìm hiểu các giải pháp tháo gỡ khó khăn nhằm kiến tạo vòng tuần hoàn kinh tế xanh, phóng viên Báo và Phát thanh, Truyền hình Đắk Lắk đã phỏng vấn ông NGUYỄN QUỐC HƯNG, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh về định hướng của tỉnh trong thời gian tới.
* Thưa ông, dù hành lang pháp lý về tín chỉ carbon rừng đã được thiết lập, Đắk Lắk vẫn gặp những điểm nghẽn về dữ liệu, công nghệ, nhân lực và chi phí triển khai. Theo ông, tỉnh cần ưu tiên tháo gỡ những vấn đề nào để đưa chính sách vào thực tiễn?
Nghị định số 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai các dự án carbon rừng. Tuy nhiên, để tháo gỡ những điểm nghẽn tại địa phương, tỉnh cần ưu tiên hoàn thiện cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng, chuẩn hóa thông tin về diện tích, trạng thái rừng, trữ lượng và chủ quản lý. Đồng thời, đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ viễn thám, xây dựng hệ thống dữ liệu số và xử lý dứt điểm các khu vực có ranh giới chồng lấn, tranh chấp. Cùng với đó, cần quan tâm nâng cao năng lực cho chủ rừng, hỗ trợ tiếp cận chuyên gia tư vấn và nguồn lực tài chính ban đầu.
Ông Nguyễn Quốc Hưng
* Để khai thác tối đa dư địa tín chỉ carbon, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích và nâng cao sinh kế cho người dân trực tiếp giữ rừng, chúng ta cần có những định hướng chiến lược nào, thưa ông?
Bản chất của tín chỉ carbon rừng không chỉ là bài toán môi trường mà là công cụ phân phối lại thu nhập và đảm bảo an sinh xã hội. Nguyên tắc của tỉnh là đặt người dân làm trung tâm của chuỗi giá trị carbon.
Nhà nước sẽ giữ vai trò kiến tạo hành lang, điều phối vĩ mô và đảm bảo nguồn thu từ carbon được tái đầu tư đúng mục đích bảo tồn, phát triển rừng. Các chủ rừng tổ chức (công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng) khi lập dự án bắt buộc phải tham vấn cộng đồng rộng rãi, xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch theo các quy định, hướng dẫn.
Đối với diện tích rừng của hộ gia đình, đồng bào dân tộc thiểu số hoặc đất xen kẽ, chính quyền cấp xã sẽ làm đầu mối tập hợp, rà soát đơn tự nguyện để tích hợp vào các dự án lớn. Thu nhập từ việc bán tín chỉ carbon hoặc nguồn tiền điều phối từ các định chế quốc tế sẽ được chi trả trực tiếp, công bằng cho người giữ rừng, tạo sinh kế bền vững dưới tán rừng.
* Theo ông, ngành lâm nghiệp tỉnh sẽ tập trung vào những kế hoạch, nhiệm vụ trọng tâm nào để từng bước hình thành các dự án, tạo nguồn tín chỉ carbon đủ điều kiện tham gia thị trường trong nước và quốc tế?
Nhằm hiện thực hóa thị trường carbon rừng gắn liền với Quy hoạch phát triển của tỉnh Đắk Lắk, ngành sẽ triển khai đồng bộ nhiều nhiệm vụ chiến lược.
Trước hết, ngành sẽ đẩy mạnh số hóa và tích hợp chặt chẽ bản đồ lâm nghiệp vào quy hoạch sử dụng đất của tỉnh; kiên quyết bảo vệ bằng được diện tích rừng tự nhiên, giữ vững an ninh nguồn nước và đa dạng sinh học làm nền tảng bể chứa carbon. Cùng với đó, sẽ tập trung chuyển đổi mô hình rừng trồng gỗ nhỏ sang thâm canh gỗ lớn có chứng chỉ bền vững (FSC/VFCS), thúc đẩy các liên kết chuỗi giá trị lâm nghiệp công nghệ cao và phát triển kinh tế dưới tán rừng.
Về mặt kỹ thuật và thu hút đầu tư, Chi cục sẽ khẩn trương hoàn thành đầu tư hệ thống WEBGIS viễn thám; phối hợp với các tổ chức tư vấn quốc tế xây dựng mức phát thải tham chiếu (FREL) chuẩn xác cho tỉnh. Chúng tôi cũng sẽ trực tiếp hướng dẫn các chủ rừng lập hồ sơ, văn kiện dự án để sẵn sàng đón dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước. Đặc biệt, ngành lâm nghiệp tỉnh sẽ tiếp tục đồng hành cùng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm hoàn thiện thủ tục tài chính cho Sáng kiến LEAF, kiến tạo một môi trường thông thoáng nhằm thu hút các dự án lâm nghiệp, qua đó tạo đòn bẩy phát triển mạnh mẽ cho toàn ngành.
* Xin trân trọng cảm ơn ông!
Bài 3: Nhiều "nút thắt" cần tháo gỡ
Sự thiếu hụt dữ liệu chuẩn hóa, điểm nghẽn kỹ thuật MRV và áp lực tài chính ban đầu đang là những "nút thắt" cần sớm tháo gỡ để thương mại hóa thành công tín chỉ carbon rừng.
Đưa chính sách ra thực địa
Để chuẩn bị cơ sở dữ liệu cho việc thẩm định các dự án carbon rừng, Chi cục Kiểm lâm đang chủ trì thực hiện dự án Điều tra, kiểm kê rừng trên địa bàn toàn tỉnh để xác định được toàn diện về hiện trạng diện tích rừng, trữ lượng rừng, trữ lượng carbon rừng và diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp chưa có rừng gắn với chủ quản lý trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở đó, cập nhật, bổ sung, chuẩn hóa và hoàn thiện cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng, hồ sơ quản lý rừng, phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát về lâm nghiệp là cơ sở để theo dõi diễn biến rừng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng.
Lực lượng kiểm lâm và người dân nhận khoán quản lý phối hợp tuần tra rừng tại Vườn quốc gia Yok Đôn.
Mặt khác, xác định rõ ràng, cụ thể diện tích rừng bị chồng lấn, tranh chấp về chủ quản lý, rừng nghèo kiệt phân bố manh mún trong vùng quy hoạch bố trí dân di cư tự do nhằm tạo thêm quỹ đất để triển khai cơ chế, chính sách về bố trí, ổn định dân cư, đặc biệt là chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo. Đây là tiền đề của tất cả các dự án carbon rừng trên địa bàn toàn tỉnh.
Theo Chi cục Kiểm lâm, hiện nay đơn vị cũng đang thực hiện dự án phân định ranh giới rừng nhằm rà soát, hệ thống hóa hồ sơ pháp lý về ranh giới đất và quyền sở hữu rừng, xử lý dứt điểm các ranh giới chồng lấn. Một dự án carbon chỉ có thể được phê duyệt khi quyền sở hữu tài sản xanh đó rõ ràng, không có tranh chấp. Chi cục cũng đang chủ động nghiên cứu quy trình, chuẩn bị hệ thống tiếp nhận, tham mưu thẩm định các văn kiện dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch UBND tỉnh nhằm đảm bảo thời gian xử lý hồ sơ nhanh nhất khi các dự án bắt đầu kích hoạt.
Nỗi lo thiếu hụt dữ liệu chuẩn
Mặc dù đã có sự chủ động, tuy nhiên trên thực tế, để hình thành dự án carbon rừng và tạo ra tín chỉ carbon cần đáp ứng nhiều yêu cầu về kỹ thuật và pháp lý. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), để một dự án carbon rừng được quốc tế công nhận, chủ rừng phải xây dựng thành công "đường cơ sở" phát thải, xác lập hệ thống Đo đạc - Báo cáo - Thẩm định (MRV), bảo đảm kiểm soát rò rỉ và rủi ro đảo ngược carbon. Đây là những yêu cầu vượt quá năng lực kỹ thuật và tài chính hiện tại của phần lớn đơn vị quản lý rừng tại địa phương.
Chỉ ra rào cản từ thực tế, ông Lê Minh Tiến, Giám đốc Vườn quốc gia Ea Sô chia sẻ: Vườn đang quản lý hơn 26.959 ha rừng, với 2.541,67 ha giao khoán cho 294 hộ dân, tiềm năng lưu trữ carbon là rất lớn. Tuy nhiên, khó khăn cốt lõi hiện nay là thiếu dữ liệu đường cơ sở, thiếu kinh phí và nhân lực chuyên môn để thiết lập hệ thống MRV. Đơn vị cần hỗ trợ kinh phí xây dựng dữ liệu đường cơ sở, đào tạo nhân lực, thí điểm tại các khu rừng có điều kiện phù hợp và bảo đảm cộng đồng tham gia bảo vệ rừng được hưởng lợi minh bạch, công bằng.
Tuần tra bảo vệ rừng ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin.
Theo Sở NN&MT, dù Chính phủ đã ban hành Nghị định 180 và Bộ NN&MT đã ban hành Thông tư hướng dẫn số 31/2026/TT-BNNMT để tạo khung hành lang lý thuyết, song khi áp dụng thực địa, cả chủ rừng lẫn cơ quan quản lý nhà nước đang đối mặt với những khó khăn lớn do thiếu hụt nghiêm trọng các thông tin và nguồn lực cốt lõi.
Để lập một biện pháp kỹ thuật carbon rừng, chủ rừng không thể dùng dữ liệu kiểm kê rừng thông thường mà phải có dữ liệu chi tiết về sinh khối, mật độ carbon của từng trạng thái rừng qua các năm để tính toán. Hiện nay, chúng ta đang thiếu một cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ số phát thải carbon đặc trưng cho từng loại rừng Tây Nguyên.
Việc tiếp cận ảnh vệ tinh độ phân giải cao, cập nhật theo thời gian thực vẫn là rào cản lớn vì chi phí quá cao, trong khi hệ thống theo dõi hiện tại chủ yếu dùng ảnh miễn phí, độ tin cậy ở quy mô cấp xã chưa cao. Chủ rừng muốn làm dự án không biết chính xác rừng của mình có bao nhiêu tấn carbon để chào bán.
Quy trình thiết lập một hệ thống MRV hay quy trình Đảm bảo chất lượng dữ liệu (QA/QC) theo tiêu chuẩn quốc tế cực kỳ tinh vi, phức tạp. Các chủ rừng của Đắk Lắk (đặc biệt là các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các công ty lâm nghiệp) đang thiếu trầm trọng các chuyên gia công nghệ viễn thám, chuyên gia kinh tế carbon. Chi phí thuê tư vấn quốc tế để lập hồ sơ, đo đạc độc lập rất lớn đối với các đơn vị chủ rừng đang sống dựa vào ngân sách hoặc đang gặp khó khăn tài chính.
Từ thực tế trên cho thấy, hành lang pháp lý đã mở cửa nhưng để triển khai vào thực tế, cả cơ quan nhà nước và chủ rừng đang phải đối mặt một bài toán kỹ thuật quá sức so với nguồn lực cả về kinh tế và nhân lực có trình độ chuyên môn phù hợp.
Nguồn: Báo Đắk Lắk điện tử